Monday, May 23, 2005

Việt Nam cần có 3 nhà máy lọc dầu!


14:29' 23/05/2005 (GMT+7)

Bất cứ một quốc gia nào, trong thời bình cũng như thời chiến, đều có nhu cầu lớn về các sản phẩm lọc hoá dầu. Từ nhu cầu đó, trừ trường hợp quá đặc biệt, các nước đều xây dựng nhà máy lọc hoá dầu dù nước đó có hay không có nguồn tài nguyên dầu khí để giảm thiểu tối đa rủi ro do sự phụ thuộc vào thị trường nguồn cung xăng dầu thế giới gây ra.

Theo dự báo rất dè dặt của các nhà kinh tế Việt Nam thì đến năm 2010, cả nước cần 19 triệu tấn xăng dầu.

Việt Nam tuy đã trở thành nước xuất khẩu dầu thô từ 20 năm nay nhưng công nghiệp lọc hoá dầu vẫn chỉ mới ở trong giai đoạn chuẩn bị hoặc bắt đầu khởi động.

Đã cấp thiết cần có nhà máy lọc dầu chưa?

Để trả lời câu hỏi này, ta thử điểm qua tình hình tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam trong các năm qua và dự báo nhu cầu trong tương lai.

Hiện nay ở nước ta, 100% lượng xăng dầu cung ứng trên thị trường đều dựa vào nguồn nhập khẩu. Theo thống kê, chỉ kể từ năm 2000 đến 2004, tổng lượng sản phẩm xăng dầu các loại có mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 6%. Năm 2000 nhập 7,533 triệu tấn, năm 2001 là 8,013 triệu tấn, năm 2002 là 8,960 triệu tấn, năm 2003 là 9,841 triệu tấn và năm 2004 là 12 triệu tấn.

Con số nói trên chưa thật chính xác nhưng khá phù hợp với con số của tạp chí Oil & Gas công bố vào đầu năm 2005, trong đó mức tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam là 0,95 thùng/người/năm. Nhu cầu xăng dầu trung bình của thế giới là 5 thùng/người/năm trong lúc ở Mỹ là 25 thùng/người/năm (1 tấn xăng bằng khoảng 7,2 thùng).

Cho rằng trong vòng 15 năm nữa, khi nước ta trở thành nước công nghiệp theo như mục tiêu của Đảng đã đề ra, dân số khoảng 100 triệu người, nhưng mức tiêu thụ xăng dầu chỉ bằng với mức trung bình hiện nay của thế giới thì chúng ta cần đến 70 triệu tấn xăng dầu vào năm 2020.

Tuy nhiên, theo dự báo rất dè dặt của các nhà kinh tế Việt Nam thì đến năm 2010, cả nước cần 19 triệu tấn xăng dầu và đến năm 2020 cũng mới chỉ đạt 31 triệu tấn xăng dầu các loại, tức là chỉ bằng một nửa mức trung bình thế giới hiện nay.

Cho rằng dự báo trên là hiện thực và xăng dầu sản xuất trong nước cần đáp ứng 6 tháng nhu cầu - theo tiêu chuẩn dự phòng chiến lược quốc tế - thì ta phải có 3 nhà máy lọc dầu, công suất mỗi nhà máy 6 triệu tấn/năm. Còn nếu lấy mức nhu cầu 70 triệu tấn/năm thì cần đến 6 nhà máy.

Như vậy, mặc dù vẫn chấp nhận phụ thuộc đến 50% vào lượng dầu nhập khẩu, số lượng nhà máy lọc dầu tối thiểu của Việt Nam từ nay đến 2020 cũng không thể ít hơn 3 nhà máy.

Chung quanh ta, các nước không có hoặc có rất ít dầu thô như Singapore, Philippines, Thái Lan đều có từ 5 nhà máy trở lên với công suất không những đủ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài, để khai thác tối đa lợi thế công nghệ và trí tuệ nhân lực, điều đó không thể không làm chúng ta suy nghĩ.

Các con số nói trên chỉ mới tính theo nhu cầu năng lượng nhưng xã hội hiện đại còn cần đến dầu khí dưới dạng nguyên liệu như nhựa, chất dẻo, đạm, sợi tổng hợp, các chất tẩy rửa, dược phẩm...

Theo kết quả nghiên cứu thị trường thì đến năm 2010, nước ta sẽ tiêu thụ khoảng 4,5 triệu tấn nhựa/năm, 4 triệu tấn phân ure/năm và khoảng 700.000 tấn polyester - sợi các loại/năm. Như thế, nhu cầu số lượng nhà máy lọc hoá dầu đối với một nước 100 triệu dân không hề nhỏ. Vậy thì câu trả lời về tính cấp thiết của các nhà máy lọc hoá dầu không cần phải diễn giải dài dòng cũng đã quá rõ.

Việc triển khai tiếp tục như thế nào?

Hiện nay, đối với Nhà máy Dung Quất, Petro Vietnam đã ký 2 hợp đồng cung cấp thiết bị đầu tiên vào ngày 17/5/2005, các đề án Nghi Xuân và nhà máy số 3 cũng được triển khai các bước khởi động khác nhau. Như vậy, nếu Nhà nước không có chủ trương khác thì từ nay đến năm 2015 vẫn xây dựng ít nhất 3 nhà máy lọc dầu. Như vậy, vấn đề cần chú ý là:

Thứ nhất, các nhà máy mới xây phải phù hợp với khuynh hướng chung của thế giới, cụ thể là:

- Sản phẩm nhẹ ngày càng tăng cao (xăng cao cấp, nhiên liệu máy bay, diesel, naptha, LPG).
- Nhiên liệu FO, dầu hoả giảm mạnh vì khí đốt và các nhiên liệu thay thế khác sẽ đáp ứng nhu cầu.
- Nguyên liệu cho hoá dầu tăng cả về số lượng lẫn chất lượng.
- Yêu cầu về môi trường ngày càng cao. Các tiêu chuẩn về hàm lượng S, các chất thải độc hại của Việt Nam hiện nay không phù hợp nữa mà phải dựa vào các tiêu chuẩn của Mỹ, EU trong thiết kế sản phẩm.
- Phải kết hợp chế biến sâu với hoá dầu, tức là phải xây dựng các đề án liên hợp lọc hoá dầu chứ không chỉ có lọc dầu hoặc hoá dầu riêng lẻ. Có như thế mới có lợi nhuận.

Thứ hai, nước ta sẽ tham gia WTO, lúc đó cạnh tranh quốc tế về phân phối sản phẩm ngay trong thị trường nội địa cũng sẽ rất gay gắt. Nhà máy lọc dầu của các nước phần lớn đã gần hết thời kỳ khấu hao cơ bản nên giá thành sản phẩm rẻ, do đó đối với những nhà máy mới xây dựng, lợi nhuận biên sẽ giảm đáng kể.

Vì vậy, phải loại trừ các nhà máy có công nghệ chế biến nông hoặc lạc hậu, công suất nhỏ (dưới 3 triệu tấn/năm). Cả thế giới đều công nhận loại nhà máy này chỉ đưa lại thua lỗ, lãng phí và nhiều nước đang dỡ bỏ hoặc rao bán giá rẻ, thậm chí tặng không để khỏi tốn chi phí tháo dỡ, giải phóng mặt bằng. Vì vậy khi mua thiết bị, thuê tư vấn, v.v... phải tham khảo đầy đủ giá mà các nước ASEAN cũng đang xây dựng các nhà máy tương tự để chống hiện tượng tiêu cực.

Thứ ba, nguồn dầu thô cung cấp không nên quá dựa vào sản lượng trong nước vì sau 5-10 năm nữa, sản lượng của ta chưa có gì đảm bảo sẽ cao như trong kế hoạch.

Thứ tư, để huy động vốn nước ngoài thì phải nghiên cứu đầy đủ các biện pháp để bảo đảm mức lợi nhuận hợp lý cho người đầu tư như cho phép tham gia phân phối sản phẩm, ưu tiên tham gia các đề án đầu tư khác có lợi nhuận cao, ít rủi ro cùng các biện pháp miễn giảm thuế v.v...

Thứ năm, cổ phần hoá ngay từ đầu các nhà máy lọc hoá dầu để có nhiều thành phần kinh tế tham gia. Nhà nước chỉ cần giữ cổ phần tới mức cần thiết để chi phối quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp với loại hàng hoá chiến lược.

  • Trần Ngọc Toản (Vneconomy)