Wednesday, April 27, 2005

Bất ổn dầu mỏ


Bóng ma của giá dầu tăng
TTCN - Dầu mỏ đang ngày càng cạn một cách vô phương cứu chữa trong khi mức cầu lại ngày càng tăng. Điểm éo le là càng phát triển, thế giới càng chóng đến chỗ khánh tận nếu như không tìm được một hay nhiều nguồn năng lượng khác thay thế dầu mỏ.

Mức cầu: cái túi không đáy

Bob Chapman của The International Forecaster, một tổ chức chuyên dự báo kinh tế chính trị, dự báo rằng dầu mỏ sẽ còn có thể lên đến 60 - 72 USD/ thùng do mức cầu tăng. Theo Bob Chapman: “Từ 1988 đến nay, mức cầu về dầu mỏ của thế giới tăng 25%, từ mức 64,95 triệu thùng/ngày lên đến 82,15 triệu thùng/ngày. EU tăng mức cầu 16%, Mỹ tăng 18%, Nhật tăng 25%, Trung Quốc (TQ) tăng 175%. Mỹ tiêu thụ 3,08 triệu thùng/ngày, TQ 3,98 triệu thùng/ngày, bằng 7,6% lượng dầu tiêu thụ của thế giới, hơn cả Nhật Bản (7,4%)”.

Andrew McKillop của Tổ chức Asian Chapter cho biết thêm: nhiều nước đang phát triển đang mỗi năm tăng mức cầu dầu mỏ 5 - 9%, và tăng mức cầu khí đốt 8 - 12%, trong khi theo Cơ quan Năng lượng quốc tế IEA, mức cầu chỉ nên tăng 3%/năm để đừng rơi vào khủng hoảng.

Từ các dữ kiện trên có thể thấy một viễn cảnh không lạc quan lắm, cơ bản do mức cầu không ngừng tăng trong khi mức cung không ngừng giảm. TQ đã và sẽ còn là một nguồn cầu dầu mỏ khổng lồ. Đây chính là một yếu tố không thể xem nhẹ trong bài toán dầu mỏ - địa chính trị. Trên một bình diện khác, Nga đang bắt đầu đóng vai trò “dầu mỏ Saudi” cho TQ. Cho nên có thể dự kiến rằng quan hệ Nga - TQ sẽ “phải” là hữu hảo đệ nhất và thực chất Nga, với thu nhập từ dầu mỏ, sẽ tăng đầu tư khai thác dầu trên thế giới và nhất là trong khu vực quanh biển Caspi. Song vấn đề không đơn giản như thế.

Muốn thế, Nga sẽ phải “bằng mọi giá” bảo toàn được an ninh ở khu vực khai thác dầu này. Từ phân tích này có thể nhớ lại rằng từ sau sự kiện 11-9-2001, Mỹ lại thò một chân vào khu vực biển Caspi này với một lô quan hệ chính trị mới mẻ lần đầu tiên kể từ sau Thế chiến thứ 2, để từ đó dưới lá cờ hợp tác chống khủng bố, mở rộng ra hợp tác quốc phòng (huấn luyện quân sự) với các nước chung quanh các mỏ dầu như Kazakhstan, Turkmenistan, Uzbekistan... Mỹ còn đang triển khai những dự án đường ống dẫn dầu từ khu vực này không chạy qua lãnh thổ Nga như trước. Nguy cơ của một chạm trán Nga - Mỹ là có thể trong tương lai.

Và sẽ là ngây thơ nếu tin rằng OPEC sẽ nhóm họp tại thủ đô Vienna của Áo để bàn về biện pháp tăng sản lượng dầu nhằm... cứu rỗi nền kinh tế thế giới! OPEC ngày nay không còn là một khối thuần nhất về quyền lợi như thuở ban đầu. Hơn nữa, các nước này hơn ai hết biết rằng dự trữ dầu mỏ của họ còn lại chẳng là bao. Thành ra, nay giá dầu có tăng và sẽ còn tăng chính là để họ “còn nước, còn tát”.

Cuối cùng, một số nguyên thủ các nước sản xuất dầu thừa hiểu rằng họ còn yên ổn trong chế độ “vương quốc”, có nghĩa là tài nguyên dầu mỏ vào túi các ông hoàng nhiều hơn là công quĩ, và rằng sớm muộn gì họ cũng sẽ bị “kiếm chuyện” nhân danh chiêu bài “dân chủ hóa Trung Đông” mà tấm gương Iraq còn đó.

Venezuela là một nguồn dầu mỏ đáng kể bên cạnh nguồn Saudi Arabia, và đây cũng sẽ là một điểm nóng. Nếu như một chính phủ mới ở Mỹ đạt được hòa giải với chính phủ của Tổng thống Chavez, Venezuela sẽ nhận thêm vốn đầu tư mà họ đang rất cần, và an ninh năng lượng của Hoa Kỳ sẽ đảm bảo hơn, bớt tùy thuộc vào nguồn dầu mỏ Trung Đông hơn.

Ông Kerry trong phát biểu với AFP đã tỏ rõ ý muốn bớt tùy thuộc nguồn dầu mỏ Trung Đông, trong khi Venezuela cũng đã bày tỏ ý muốn hòa giải dù vẫn trách móc: “Không thể giảng hòa được với Mỹ!” (nguồn VHeadline) mà “Mỹ” ở đây là chính quyền Bush. Nếu ông Kerry thắng cử, có thể tin rằng hai bên sẽ gặp nhau ở một điểm nào đó, nhất là khi êkip của ông Kerry cũng thân cận với các đại gia dầu mỏ.

Còn nếu ông Bush thắng, coi như khó có cơ hội hòa giải, nhất là sau khi ông Chavez đã ung dung vượt qua cuộc bỏ phiếu tín nhiệm do chính phe đối lập và giới chủ nhân (thân Mỹ) đòi tổ chức. Muốn hay không muốn, ông Chavez sẽ khó an toàn bảo vệ qui chế quốc doanh cho ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela.

Một điểm nóng khác là Iran. 18 tháng sau chiến tranh Iraq, sản lượng dầu ở xứ này hiện chưa đạt 1 triệu thùng/ngày, trong khi sản lượng dầu trước chiến tranh là 2,4 triệu thùng/ngày. Trong não trạng chiến tranh/chiếm đóng của các đại gia dầu mỏ, Iran có thể sẽ là một mục tiêu mới. Những cáo buộc về tiềm năng hạt nhân của Iran, ít nhiều lại có cơ sở hơn trường hợp Iraq, có thể sẽ kích thích một cuộc chiến tranh giải giới Iran. Bằng không được, một biện pháp trừng phạt kinh tế Iran, cấm vận buôn bán sẽ đẩy giá dầu đúng như mong muốn của các đại gia dầu mỏ. Trong trường hợp đó, Andrew McKillop của Asian Chapter dự kiến giá dầu sẽ ở mức 100 USD/thùng.

Biện pháp nào?

Tiết kiệm năng lượng là khẩu hiệu của mọi nước. Vấn đề là có thật sự tiết kiệm hay không và hiểu tiết kiệm năng lượng nghĩa là gì.

Andrew McKillop nêu trường hợp Iran, nay đang là nước tăng sử dụng xe hơi nhiều thứ nhì châu Á, chỉ sau TQ, một phần do dân số tăng gần gấp ba lần so với năm 1975, một phần do tăng trưởng kinh tế và chính sách đối nội cởi mở hơn. “Iran nay trở thành một nước nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ tinh lọc khổng lồ, trong khi lại là một nước xuất khẩu dầu thô ngày càng giảm”.

Iran không chỉ là trường hợp duy nhất. Nigeria cũng từ một nước giàu có nhờ xuất khẩu dầu mỏ, sang thập niên 1990 đã rơi vào cảnh khó nghèo, bất ổn chính trị liên tục do tài nguyên dầu cạn và rơi vào túi tham nhũng.

Cho nên tiết kiệm năng lượng không chỉ là tiết kiệm tiêu thụ mà còn là bài toán xuất khẩu, sao cho xuất khẩu được lợi nhất và bảo toàn dự trữ dầu tối ưu nhất, chứ không thể cứ khai thác và xuất khẩu với bất cứ giá nào, càng không phải là trục lợi cá nhân từ sự khai thác đó.

Tiết kiệm năng lượng không còn là khẩu hiệu đầu môi chót lưỡi nữa. Dự báo của Bộ Năng lượng Mỹ tháng 10-2004 khởi đầu như sau: “Mùa đông này chi tiêu sưởi ấm sẽ tăng so với các năm trước. Giá khí đốt bình quân sẽ tăng 11% so với mùa đông năm ngoái. Giá dầu đốt sẽ tăng 29% so với mùa đông năm ngoái...”.

Phản ứng của dân Mỹ như thế nào? Trên Washington Post một độc giả viết như sau: “Nay đã đến lúc người dân đất nước này tỉnh thức trước việc chúng ta cứ tiếp tục gia tăng lệ thuộc vào dầu mỏ. Chúng ta không còn đáp ứng được các nhu cầu trong nước và hầu hết các nguồn dầu mỏ nước ngoài đều đang gặp bất ổn về chính trị, không còn theo ý muốn của chúng ta. Rõ ràng một giải pháp quân sự sẽ là đẫm máu và tốn kém. Trừ phi chúng ta tìm ra được một nguồn năng lượng thay thế. Trong khi chờ đợi, hãy cùng nhau tiết kiệm, sử dụng phương tiện chuyên chở công cộng...”. Một ý kiến đáng được quan tâm ở các nước “nghèo mà xài sang”!

HỮU NGHỊ