Friday, February 11, 2005

Dầu hỏa trong quá khứ và tương lai


Dầu hỏa trong quá khứ và tương lai

90% hoạt động vận chuyển trên hành tinh này sẽ dừng lại nếu không có dầu hỏa. Những ngành sản xuất như thực phẩm, vải vóc, đồ dùng nội thất, hóa chất, dược phẩm... cũng sẽ "chịu chết" nếu thiếu dầu. Thứ chất lỏng có mùi chẳng dễ chịu tí nào này có thể quyết định sự phồn thịnh của một quốc gia, làm thay các mối quan hệ quốc tế và góp phần định hình lịch sử nhân loại.


Dầu - khởi nguồn của chiến tranh

Không thể kể hết có bao nhiêu cuộc chiến tranh, xung đột gây bao chết chóc đau thương đã xảy ra trên thế giới này liên quan đến dầu mỏ. Một trong những lý do khiến Nhật tấn công Trân Châu Cảng là để trả đũa việc Mỹ giới hạn lượng dầu xuất khẩu sang Nhật hồi năm 1941. Do thiếu dầu, Nhật quyết định xâm chiếm những hòn đảo giàu dầu mỏ của Indonesia, lúc bấy giờ đang do Hà Lan chiếm đóng. Ngày nay, Nhật vẫn phụ thuộc vào lượng dầu nhập khẩu nhưng chuyển nguồn cung cấp sang các quốc gia vùng Vịnh, nơi đã và đang được phương Tây "quan tâm" triệt để cũng vì dầu mỏ. Dầu mỏ chính là một trong những yếu tố dẫn đến cuộc đảo chính do Mỹ và Anh tổ chức để lật đổ Thủ tướng dân cử của Iran, ông Mossadegh vào năm 1953. "Tội" nặng nhất của Mossadegh là quốc hữu hóa một công ty dầu lửa của Anh ở Iran. Còn theo hồ sơ tình báo của Chính phủ Anh vừa được giải mã, Mỹ từng có kế hoạch đánh chiếm các giếng dầu ở Ả Rập Xê Út, Kuwait và Abu Dhabi (thuộc Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất) hồi năm 1973 để đối phó với một lệnh cấm vận dầu mà Ả Rập Xê Út (hiện là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới) áp đặt với phương Tây lúc bấy giờ.

Sang đến cuộc chiến vùng Vịnh đầu thập niên 90, động cơ chính để Mỹ can thiệp vào Kuwait là nhằm ngăn chặn Tổng thống Iraq Saddam Hussein mở rộng quyền lực dầu mỏ. Còn trong cuộc chiến Iraq hiện nay, Mỹ có nhiều lý do để thanh minh cho hành động của mình nhưng có một điều mà dư luận quốc tế đồng ý: dầu mỏ là một trong những động cơ không thể không nóái tới. Quay ngược lại lịch sử, Baku (thủ đô Azerbaijan và từng là một trong những nơi xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất) năm lần bảy lượt bị nước ngoài chiếm đóng. Trong thế chiến thứ 2, Hitler từng tuyên bố rằng người Đức sẽ thua nếu không kiểm soát được các mỏ dầu ở đây.

Thế giới còn bao nhiêu dầu?

Cả thế giới hiện đang sản xuất khoảng 75 triệu thùng dầu/ngày, trong đó Trung Đông - với trữ lượng lớn nhất - vẫn là khu vực khai thác mạnh nhất. Canada gần đây vừa công bố phát hiện một mỏ dầu ở vùng Ablerta có trữ lượng lên đến 175 tỉ thùng dầu, khiến nước này trở thành nơi có tiềm năng sản xuất dầu mỏ lớn thứ 2 trên thế giới. Điều khác biệt nằm ở chỗ trong khi trữ lượng dầu mỏ của khu vực Trung Đông chủ yếu thuộc loại quy ước dễ khai thác thì chi phí để khai thác những mỏ dầu không quy ước như ở Ablerta có thể còn cao hơn giá dầu đang được bán trên thị trường hiện nay. Biển Bắc cũng là một khu vực khác giàu tiềm năng dầu mỏ không quy ước. Với sự phát triển không ngừng của khoa học, người ta hy vọng một ngày nào đó có thể dễ tận dụng được tất cả những nguồn dầu không quy ước với giá không quá cao so với hiện nay.

Thế giới này còn bao nhiêu dầu hỏa? Đó là câu hỏi chẳng ai có thể trả lời một cách chính xác. Cuộc khảo sát toàn cầu của các nhà địa chất Mỹ hồi năm 2000 ước đoán chúng ta còn khoảng 3.000 tỉ thùng dầu quy ước. Một câu hỏi khác, hóc búa hơn gấp bội là chúng ta sẽ ra sao một khi không còn dầu nữa? Đó có thể là một đại họa. Thật khó có thể tìm được một nguồn năng lượng nào khác đa năng như dầu hỏa. Tuy nhiên, một số người cho rằng viễn cảnh trên sẽ là một... tin vui, ít nhất là đối với môi trường. Những người lạc quan cho rằng chúng ta sẽ mau chóng tìm ra nhiều nguồn năng lượng sạch khác nhau, rẻ hơn dầu mỏ rất nhiều nên cho dù thế giới không còn dầu nữa cũng chẳng có gì đáng lo. Chẳng hiểu viễn cảnh sáng sủa vừa nêu có trở thành sự thật hay không nhưng có một điều chắc chắn: một khi dầu mỏ mất đi sức mạnh của

Kiều Oanh


Chỉ vài năm tới, thế giới sẽ cạn nguồn dầu lửa?

Mọi người đều đồng ý rằng nguồn dầu lửa của Trái đất không phải là vô hạn, nhưng liệu chúng ta đã sắp khai thác đến tận cùng? Một số chuyên gia dự đoán: Chỉ trong mấy năm nữa thôi, tình trạng thiếu dầu của chúng ta sẽ không thể nào cứu vãn được nữa.



Các dàn khoan trên thế giới đang hoạt động hết công suất.

Nhưng ít nhất còn có một nhà phân tích không đồng ý với nhận định này. Leonardo Maugeri, nhà kinh tế học kiêm nhà phân tích dầu lửa thuộc Công ty Dầu Khí Eni S.p.A. của Italia, cho rằng các công nghệ mới và các mỏ dự trữ chưa được đánh giá đúng mức sẽ giúp chúng ta duy trì nguồn dầu trong một thời gian khá dài nữa.

Maugeri cho biết: "Thực tế là nỗi lo cạn dầu đã xuất hiện rất lâu trước khi dầu lửa trở thành một nguồn năng lượng quan trọng. Vào những năm 1860, ngay sau khi bắt đầu thời kỳ hiện đại của dầu lửa, những thành công và thất bại của doanh nghiệp đã đánh dấu sự xuất hiện của một kỷ nguyên mới. Mỗi thành công lại làm dấy lên một nỗi lo sợ về việc hết dầu, khiến cho mọi người vung tiền vào sản xuất và lọc dầu. Tình trạng này làm cho John D. Rockefeller phải quyết định chống lại hiện tượng cạnh tranh "chết người" trên thị trường bằng cách "xóa sổ" hết các đối thủ."

Năm 1919, George Otis Smith, người phụ trách chương trình Khảo sát Địa lý Mỹ (USGS), thậm chí còn dự báo rằng nước Mỹ sẽ hết sạch dầu lửa trong vòng chín năm nữa. Thực tế đã chứng minh dự báo của Smith không hề chính xác, khi thế giới được chứng kiến sự phát triển vượt bậc của các công ty dầu lửa.

Tuy nhiên, không phải dự báo nào cũng sai!

Trái đất sắp hết dầu lửa?

Một trong những mô hình dự báo về trữ lượng dầu lửa thông dụng nhất hiện nay được xây dựng dựa trên công trình của nhà vật lý địa chất người Mỹ M. King Hubbert. Năm 1956, Hubbert tính toán rằng sản lượng dầu của Mỹ sẽ đạt đến đỉnh cao nhất mọi thời đại vào đầu những năm 1970. Mặc dù rất nhiều người không tán thành phương pháp này, kết quả cuối cùng đã chứng minh rằng Hubbert đúng. Giờ đây, các nhà phân tích lại sử dụng công thức của Hubbert để tính toán xem đến khi nào lượng dầu sản xuất ra sẽ đạt đến đỉnh cao nhất. Họ kết luận rằng thời gian đấy chỉ còn cách hiện nay chỉ... vài năm nữa thôi. Nếu điều này thực sự xảy ra, nguồn cung sẽ không thể nào đáp ứng nổi nhu cầu ngày càng tăng.

Ken Deffeyes, giáo sư danh dự ĐH Princeton (Mỹ ), tác giả của cuốn Đỉnh cao Hubbert: Thế giới sắp hết dầu, đã có thời làm việc cùng với Hubbert tại Phòng Nghiên cứu của Công ty Shell tại Houston, Texas. Ông nói: "Tôi cho rằng đồ thị đường cong của việc sản xuất dầu sẽ đạt tới đỉnh cao vào Lễ Tạ ơn năm 2005, và thời gian chênh lệch sẽ khoảng vài tuần. Sản lượng dầu đã tiệm cận điểm này vài năm nay rồi - đồ thị của nó đã nằm ngang trên đỉnh hình chuông của Hubbert"!

Các tác động của thị trường dầu - chẳng hạn như khan hiếm dầu, giá cao - sẽ bắt đầu xuất hiện khi sản lượng dầu vượt qua đỉnh, trước khi các giếng dầu thực sự khô kiệt. Do vậy, Deffeyes so sợ rằng một cuộc khủng hoảng lớn về nguồn cung dầu lửa sẽ xảy ra trước khi chúng ta tìm được nguồn năng lượng thay thế hoặc có phương pháp bảo tồn.

Ông mỉa mai: "Một cuộc khủng hoảng như thế sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu của Hiệp ước khí hậu Kyoto xấu số: chúng ta sẽ đốt ít dầu đi, chỉ vì lượng dầu dưới lòng đất còn quá ít. Trên thực tế, những hỗn loạn hiện nay trong giá cả năng lượng có thể là biểu hiện của một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hơn nhiều."

Đánh giá dầu: Một ngành khoa học... không chính xác

Tuy nhiên, Maugeri lại cho rằng các dự báo nói trên đều bắt nguồn từ những giả định... giả hoặc không rõ ràng. Ông nói: "Không ai biết được đích xác lượng dầu thực tế có trong các giếng. Để biết được điều này, chúng ta phải mở thêm các giếng mới và áp dụng các công nghệ hiện đại. Trong vòng hai thập kỷ qua, chi phí để tìm kiếm và sản xuất dầu đã giảm từ 21 USD/thùng xuống còn 6 USD/thùng. Hubbert thành công trong việc dự báo tình trạng dầu ở Mỹ chỉ vì ông ta biết được sự phát triển tột bậc của khu vực này, nơi bị thăm dò và khai thác "căng" nhất trên thế giới. Nhưng khi dự báo về trữ lượng gas của Mỹ thì ông đã sai, vì thăm dò và sản xuất gas là ngành non trẻ hơn nhiều."

Dầu hiện diện trong các tầng đá xốp dưới lòng đất, vì thế rất khó đánh giá chính xác số lượng của chúng. Hiểu biết của chúng ta về các mỏ dầu hiện nay liên tục thay đổi. Đôi khi, trữ lượng dầu của một mỏ lại tăng vọt lên kinh khủng khi được khoan và đưa vào sử dụng. Theo Maugeri, có được quá trình "tăng trưởng dự trữ" này là nhờ các yếu tố như công nghệ, biến đổi giá cả, chính trị và kiến thức về các mỏ hiện có. Điển hình là mỏ Kern River, phát hiện thấy tại California năm 1899.

Năm 1942, mỏ Kern River được đánh giá là chứa khoảng 54 triệu thùng dầu. Tuy nhiên, qua 44 năm sau, sản lượng đã ở vào khoảng 736 triệu thùng, và theo đánh giá năm 1986 thì mỏ này còn chứa một trữ lượng khoảng 970 triệu thùng nữa. Các mỏ khác cũng vậy. Tất nhiên là lượng dầu bên trong không hề thay đổi, chỉ có công nghệ tìm kiếm và khai thác là thay đổi mà thôi.

Khả năng phát hiện ra các mỏ dầu mới cũng là một đề tài gây tranh cãi. Trong khi Deffeyes và nhiều người khác tin rằng không thể tìm thêm được nhiều mỏ mới nữa, một số người lại đặt niềm tin vào biển Đông và những nơi như Kazakhstan. Trong những năm gần đây, số lượng mỏ dầu phát hiện được chỉ đáp ứng được khoảng 1/4 lượng dầu sử dụng hàng năm của thế giới. Nhưng Maugeri cho biết, điều này là do các quốc gia và công ty dầu lửa lớn chưa dành nhiều ưu tiên cho việc phát hiện mỏ mới vì sợ gây nên thặng dư về giá. Maugeri viết: "Trên thực tế, các nước như Ả-rập Xê-út hoặc Iraq (hai nước này chiếm khoảng 35% trữ lượng dầu hiện nay của toàn thế giới) chỉ sản xuất xăng dầu từ một ít mỏ, mặc dù mỗi nước đã phát hiện ra trên 50 mỏ mới nhưng chưa hề khai thác."

Vậy đâu là sự thực?



Ngành công nghiệp ô-tô phát triển khiến cho Mỹ trở thành nước tiêu thụ dầu lửa nhiều nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, dữ liệu về các mỏ mới ở Trung Đông còn tương đối sơ sài. Một số nhà phân tích sợ rằng các nước OPEC đã phóng đại trữ lượng dầu lửa của mình lên quá cao so với thực tế. Nếu đúng như vậy, chắc chắn họ sẽ gây nên những hậu quả khủng khiếp cho nguồn cung dầu lửa toàn cầu, và ngày sản lượng dầu thế giới đạt đến đỉnh cao chắc chắn sẽ đến sớm hơn so với dự tính. Các tổ chức như Saudi Aramco, công ty dầu lửa quốc gia của Ả-rập Xê-út, bảo vệ dữ liệu của mình rất chặt chẽ, khiến cho các nhà kinh tế "không biết đường nào mà lần".

Fatih Birol, nhà kinh tế học hàng đầu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) tại Paris, muốn có thêm nhiều thông tin cụ thể hơn về trữ lượng dầu. Birol cho biết: "Dữ liệu này rất mơ hồ. Chúng ta không biết chính xác trữ lượng của các mỏ này là bao nhiêu cả. Lý do chính không phải là công nghệ, mà là các vấn đề về chính sách và quản lý. Dầu lửa đóng vai trò có tính chiến lược đối với sự giàu có của con người. Tôi nghĩ: Điều quan trọng là chúng ta phải tạo áp lực lên các nhà sản xuất dầu lửa và các công ty lớn để họ trở nên minh bạch hơn đối với trữ lượng của mỏ."

Dầu lửa luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của giới kinh tế, và Birol cho rằng vấn đề lớn nhất bắt nguồn từ các khoản đầu tư chứ không phải là nguồn cung. Ông nói: "Chúng ta có đủ trữ lượng dầu, nhưng có hai vấn đề lớn vẫn còn tồn tại. Thứ nhất là sự minh bạch của thông tin về trữ lượng dầu, và vấn đề thứ hai quan trọng hơn là vận động đầu tư kịp thời để tăng sản lượng dầu trên phạm vi toàn thế giới. Chúng ta không thể thu lợi từ dầu dưới lòng đất được, nếu như dầu không đến được nhà máy năng lượng hoặc trạm bơm. Điều quan trọng là tiền đầu tư. Nếu các công ty dầu lửa nhận được thêm tiền từ nhà đầu tư, họ sẽ sẵn sàng thử nghiệm các công nghệ khai thác mới để tìm kiếm thêm mỏ dầu. Ngành dầu lửa phải cạnh tranh với các ngành khác để giành tiền đầu tư, nhưng hiệu suất của ngành dầu lửa trong năm vừa qua không được thuyết phục lắm. Tiền sẽ đến với nơi nào có thể sinh lãi. Vậy liệu tiền đầu tư có được rót kịp thời để mang dầu lửa đến cho người tiêu dùng?".

Khánh Hà (Theo National Geographic)