Sunday, February 13, 2005

Châu Á và nỗi lo thiếu dầu mỏ


22/04/2004

Giá dầu thế giới leo thang do lo ngại cung không đủ cầu và tình hình bất ổn ở Trung Đông. Mặc dù giá dầu cao chưa tác động trực tiếp đến đà phục hồi kinh tế toàn cầu nhưng Nhật Bản và nhiều nước châu Á e sợ sẽ xảy ra khủng hoảng như hồi năm 1973.
Nguồn dầu tiềm năng dưới lòng đất của thế giới rất lớn.

Giá dầu thế giới luôn leo dốc

Một năm trước khi lực lượng đồng minh chiến thắng ở Iraq, giá dầu thô kỳ hạn giao vào 5/2004 được yết giá 25USD/thùng. Nhưng mấy hôm gần đây trên thị trường New York, dầu thô giao vào tháng sau dao động ở mức 36USD/thùng, tăng gần 50% so với trước đó một năm.

Dầu tăng giá đẩy giá xăng bán lẻ lên cao kỷ lục 1,79USD/gallon - tăng 20% trong năm nay. Nhưng vấn đề hiện nay là dầu có thể giảm giá trong các tháng tới, song hy vọng xuống tới 25USD/thùng như trước kia chỉ là hão huyền.

Mặt khác, nhu cầu dầu trên thế giới tăng nhanh, dẫn đầu là Trung Quốc và Mỹ, trong khi sản lượng chỉ dư khoảng 2 triệu thùng một ngày. Mặc dù hiện nay cung - cầu dầu có vẻ cân bằng nhưng rất nhiều dự án kinh tế đang chuẩn bị đi vào hoạt động và thị trường chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng khan hiếm.

Cung có thoả cầu?

Giá dầu lên cao nhất hôm 9/4 vừa rồi do cơ quan năng lượng Quốc tế (IEA) đưa ra dự báo nhu cầu dầu sẽ tăng trong 6 tháng liên tiếp. Theo IEA, nhu cầu dầu của Trung Quốc tăng 18% trong quý I và sẽ tăng 13% trong cả năm. Ngoài ra, người tiêu dùng đất nước này ngày càng rót nhiều tiền mua ôtô mới. Kinh tế Trung Quốc tiếp tục bùng nổ, không có dấu hiệu nào cho thấy người khổng lồ này sẽ phát triển chững lại. IEA cho rằng nhu cầu dầu của cả thế giới nói chung sẽ tăng 2%, trong đó riêng Trung Quốc chiếm 40% mức tăng, và Mỹ - nước tiêu tốn nhiều năng nượng nhất "đóng góp" 20%.

Nhu cầu quá lớn khiến người ta dễ dàng lo ngại thị trường sẽ thiếu cung. Một mặt, thương nhân sợ OPEC khai thác quá ít sẽ khiến giá dầu lên cao hơn hồi cuối năm ngoái. Mặt khác tình hình Iraq không hề lắng xuống, nguy cơ bị tấn công khủng bố tăng cao cũng làm thị trường biến động mạnh. Nếu bạo loạn xảy ra ở Iraq, hai triệu thùng dầu nước này sản xuất mỗi ngày sẽ chỉ là con số 0.

Người ta càng lo ngại hơn trước tình hình bất ổn mới đây ở Saudi Arabia. Bạo lực bất ngờ tiếp diễn hôm 13/4 khi quân đội giết chết 4 cảnh sát và bỏ trốn. Một viễn cảnh khác còn đen tối hơn nhiều: Lực lượng Al Qaeda đang tiến hành những cuộc tấn công quy mô lớn vào một số cơ sở hạ tầng khai thác ở Saudi Arabia như Ras Tanura - hòn đảo nhân tạo ở Vịnh Persian. Một vụ nổ máy bay tại Ras Tanura có thể cướp đi của thị trường 3, 4 triệu thùng dầu dễ như trở bàn tay. Vậy nếu không đẩy lùi được nạn khủng bố và rối loạn chính trị, giá dầu sẽ còn leo cao.

Thực tế các công ty dầu khí đang triển khai nhiều dự án khai thác các mỏ dầu có trữ lượng lớn từ vùng biển Caspi đến khu vực nước sâu ngoài khơi Angola. Nếu các nhà sản xuất tiếp tục theo đuổi kế hoạch của mình nói trên, đến năm 2008 sản lượng dầu toàn thế giới sẽ tăng 12% hay 10 triệu thùng/ngày, trong khi người ta cũng dự đoán phải đến 2010 lượng tiêu thụ của thế giới mới tăng 9 triệu thùng/ngày. Như vậy trong tương lai có nhiều khả năng giá dầu giảm. Nhưng viễn cảnh tươi đẹp nói trên cũng phải phụ thuộc nhiều vào tình hình thế giới. Chính trị có thể làm gián đoạn một số dự án.

Nga chiếm 17% sản lượng dầu thế giới có thể có thêm vào năm 2008, nhưng cũng ít ai không biết gần đây Tổng thống Vladimir V. Putin mới bỏ tù tỷ phú dầu mỏ Mikhail Khodorkovsky. Các nhóm dân tộc thiểu số liên tục đe doạ sự ổn định của Nigeria và Angola. Ở Kazakhstan, một "rốn" dầu mới của Trung Á lo ngại lại tập trung vào quân khủng bố Hồi giáo. Người dân Venezuela vẫn phải chứng kiến cuộc tranh giành quyền lực giữa Tổng thống Hugo Chavez và tầng lớp trung lưu (bao gồm cả nhóm công nhân dầu khí cổ cồn). Như vậy mặc dù không hề thiếu dầu trong lòng đất nhưng chúng ta vẫn phải trả nhiều tiền cho dầu thô và xăng trong một thời gian dài tới.


Chính trị bất ổn, khủng bố và nhu cầu lớn làm giá xăng dầu tăng cao.

Nhật Bản đã trải qua hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ lớn vào năm 1973 và 1979 do OPEC tăng giá dầu. Để tránh nạn thiếu dầu xảy ra lần nữa, Thủ tướng Masayoshi Ohira đã chấp thuận lời đề nghị từ cố vấn của mình, đưa ra chương trình tiết kiệm năng lượng, các cơ quan Chính phủ giảm không sử dụng điều hoà nhiệt độ.

Tuy nhiên tình hình hiện giờ của Nhật Bản cũng không hơn gì mấy so với cách đây 30 năm, chính sách năng lượng vẫn không đủ mạnh. Trước cuộc khủng hoảng đầu tiên năm 1973 khi OPEC tăng giá dầu lên gấp 4 lần, dầu chiếm 75% tổng số nguồn năng lượng ở Nhật. Sau khủng hoảng, dầu giảm xuống chỉ chiếm 1/2 tổng lượng năng lượng tiêu thụ, nhưng Chính phủ Nhật không cách nào giảm tỷ lệ này xuống thấp hơn được nữa. Hiện Nhật Bản nhập 85-90% lượng dầu mỏ cần thiết của mình từ Trung Đông, còn con số này của người láng giềng Hàn Quốc là 80%.

Thật không may, hiện các nước châu Á lại dẫm vào vết xe đổ của Nhật hồi những năm 1960. Lịch sử để lại cho chúng ta nhiều bài học, nhưng có vẻ như đối với dầu mỏ thì những khó khăn lúc nào cũng vẫn còn mới mẻ. Trung Quốc đã từng là nước xuất khẩu dầu nhưng đã bắt đầu nhập khẩu từ năm 1992. Một số dự án cho thấy những nước sản xuất dầu như Malaysia và Indonesia lại trông mong vào nguồn năng lượng nhập khẩu trong thập niên tới.

Kinh tế Trung Quốc và nhiều nước khác nữa phát triển bùng nổ khiến cho nguy cơ thiếu dầu ở khu vực này càng trầm trọng hơn. Bên cạnh đó thị trường năng lượng khu vực lại không có tổ chức, thiếu tập trung và không thống nhất. Châu Á ngày càng phải tốn tiền nhiều hơn và phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn dầu khí của khu vực luôn bất ổn - Trung Đông.

Châu Á loay hoay tìm phương đối phó

Chính phủ Nhật đang nỗ lực tìm kiếm nguồn dầu ở các nước châu Á nhằm giảm nhiệt khủng hoảng cung dầu, bình ổn dần thị trường năng lượng và nhất là đáp ứng phần nào nhu cầu dầu cũng như các nguồn năng lượng khác ngày càng tăng cao. Nhật và Iran từ năm 2000 đã đàm phán về việc thành lập một liên doanh khai thác mỏ dầu Azadegan trữ lượng lớn ở tây nam Iran, cách biên giới Irắc không xa.

Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) cũng vừa ban hành một văn bản đề xuất thành lập "Đối tác hợp tác năng lượng châu Á" để đảm bảo an ninh năng lượng trong khu vực. METI dự định đưa sáng kiến này lên bàn hội nghị Bộ trưởng Năng lượng các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và APEC tổ chức vào ngày 9-10/6 tới, với một số nội dung chủ yếu sau: Đảm bảo an ninh năng lượng bằng cách đẩy mạnh chương tình dự trữ dầu ở châu Á, tìm kiếm một cơ chế hợp tác hiệu quả hơn trong trường hợp khẩn cấp; cải tổ thị trường dầu mỏ, khí tự nhiên; đưa ra những quy định, chính sách sử dụng năng lượng hiệu quả ở mỗi nước cũng như trên bình diện khu vực và toàn cầu thông qua đàm phán..; đảm bảo an ninh năng lượng bằng cách phát triển hệ thống hợp tác vận chuyển dầu giữa các nước.

Nhìn vào những ưu tiên này ta thấy từ khi xảy ra hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ hồi những năm 1970 đến giờ, Nhật Bản nói riêng và châu Á nói chung vẫn chưa có phương kế gì hữu hiệu đối phó với trường hợp giá dầu tăng cao đột ngột, các nước châu Á đang vấp phải một vấn đề chung là thiếu dự trữ dầu, cung dầu và nhiều nguồn năng lượng khác không ổn định, giá cả biến động và nghiêm trọng hơn cả là khu vực còn vắng bóng thị trường năng lượng.

Vấn đề nằm ở chỗ liệu Nhật Bản có thể đặt ra lịch trình hợp lý cho thị trường và cách sử dụng năng lượng của chính mình để làm gương cho các nước châu Á khác? Không như sáng kiến hồi năm 1979 của Thủ tướng Ohira, sáng kiến mà METI đưa ra cần phải được đầu tư công sức hơn nhiều.

(Cẩm Tú - Theo Asia Times, Business Week, AFP)